SBT GDCD 6 Bài 9 CTST Luyện tập trang 38: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhất thiết phải là người sinh ra ở Việt Nam không?

SBT GDCD 6 Bài 9 CTST Luyện tập trang 38: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhất thiết phải là người sinh ra ở Việt Nam không?

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhất thiết phải là người sinh ra ở Việt Nam không?

Theo khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

Tại Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 thì người được xác định có quốc tịch Việt Nam, nếu có một trong những căn cứ sau đây:

(1) Do sinh ra theo quy định tại các điều 15, 16 và 17 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi bởi Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2025:

Điều 15. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam
Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.
Điều 16. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam
1. Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.
2. Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện thủ tục về khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo hướng dẫn của Chính phủ. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam.
Điều 17. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch
1. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.
2. Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

(2) Được nhập quốc tịch Việt Nam;

(3) Được trở lại quốc tịch Việt Nam;

(4) Theo quy định tại các điều 18, 35 và 37 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi bởi Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2025:

Điều 18. Quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam
1. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.
2. Trẻ em quy định tại khoản 1 Điều này chưa đủ 15 tuổi không còn quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
a) Tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài;
b) Chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài.
Điều 35. Quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam
1. Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ.
2. Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ.
Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngoài của người con.
Điều 37. Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên
1. Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.
2. Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi.
3. Trẻ em là người nước ngoài được cha mẹ mà một người là công dân Việt Nam, còn người kia là người nước ngoài nhận làm con nuôi thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam của cha mẹ nuôi và được miễn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này.

(5) Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Như vậy, có thể thấy, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nhất thiết phải sinh ra ở Việt Nam.

Ví dụ trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, dù sinh ở nước ngoài, vẫn có thể được mang quốc tịch Việt Nam. Người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu đáp ứng đủ điều kiện theo luật và được Nhà nước cho phép, cũng có thể nhập quốc tịch Việt Nam và trở thành công dân Việt Nam và những trường hợp khác theo quy định pháp luật.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/nguoi-sinh-ra-o-viet-nam.png

SBT GDCD 6 Bài 9 CTST Luyện tập trang 38: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhất thiết phải là người sinh ra ở Việt Nam không? (Hình từ Internet)

Nhà nước bảo đảm những quyền gì cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Căn cứ Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2025 về quan hệ giữa Nhà nước và công dân như sau:

Điều 5. Quan hệ giữa Nhà nước và công dân
1. Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam.
2. Công dân Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.
3. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách để công dân Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện hưởng các quyền công dân và làm các nghĩa vụ công dân phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước.
4. Trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
...

Theo đó, Nhà nước bảo đảm cho công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền công dân và đồng thời yêu cầu công dân thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

9 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý