Kinh tế Pháp luật 10 Bài 11: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là thể hiện đặc trưng nào của pháp luật?

Giải Kinh tế Pháp luật 10 Bài 11: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là thể hiện đặc trưng nào của pháp luật? Pháp luật có những đặc điểm gì?

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là thể hiện đặc trưng nào của pháp luật?

Tại Điều 16 Hiến pháp 2013 có quy định:

Điều 16.
1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Quy định này thể hiện rằng pháp luật được áp dụng đối với tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay hoàn cảnh kinh tế. Mỗi cá nhân khi tham gia vào các quan hệ xã hội đều phải tuân theo các quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau.

Điều đó thể hiện tính quy phạm phổ biến của pháp luật, tức là pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Những quy tắc này được áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi và đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Chính đặc điểm này giúp pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách thống nhất và công bằng, đồng thời phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác như đạo đức, phong tục, tập quán.

Như vậy, nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật chính là một biểu hiện rõ ràng của tính quy phạm phổ biến của pháp luật, thể hiện sự công bằng và áp dụng chung của pháp luật đối với toàn xã hội.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/moi-nguoi-deu-binh-dang-truoc-phap-luat.jpg

Kinh tế Pháp luật 10 Bài 11: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là thể hiện đặc trưng nào của pháp luật? (Hình từ Internet)

Pháp luật có những đặc điểm gì?

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Để thực hiện vai trò đó, pháp luật có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Tính quy phạm phổ biến: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tế và ở nhiều nơi khác nhau. Những quy định này không chỉ áp dụng cho một cá nhân hay một trường hợp cụ thể mà áp dụng đối với tất cả mọi người, mọi tổ chức trong xã hội khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh. Đây cũng là đặc điểm giúp phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác như đạo đức, phong tục hay tập quán.

- Tính quyền lực, bắt buộc chung: Pháp luật do Nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước. Vì vậy, mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội, không phân biệt địa vị, nghề nghiệp, chức vụ hay quyền hạn đều phải tuân thủ pháp luật. Nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí nghiêm minh, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm.

- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức:

+ Pháp luật được thể hiện cụ thể thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Những văn bản này phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định. Chỉ những cơ quan được Hiến pháp và luật cho phép mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật

+ Các văn bản pháp luật phải thống nhất với nhau, trong đó mọi văn bản đều phải phù hợp và không được trái với Hiến pháp, và văn bản do cơ quan cấp dưới ban hành không được trái với nội dung của văn bản do cơ quan cấp trên ban hành.

Như vậy, với các đặc điểm như tính quy phạm phổ biến, tính quyền lực bắt buộc chung và tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm trật tự, công bằng và ổn định trong xã hội.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

22 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý