GDKTPL 12 Bài 9: Có phải người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản có thể tuỳ ý sử dụng tài sản theo ý muốn của mình không?

Xuất bản: 31-08-2026
Có phải người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản có thể tuỳ ý sử dụng tài sản theo ý muốn của mình? Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như thế nào?

Có phải người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản có thể tuỳ ý sử dụng tài sản theo ý muốn của mình không?

Không phải người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản thì có thể tùy ý sử dụng tài sản đó theo ý muốn của mình. Quyền sử dụng tài sản luôn phải được thực hiện trong một phạm vi nhất định và chịu sự điều chỉnh của pháp luật.

Tại Điều 160 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như sau:

Điều 160. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
3. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.

Theo đó, ngay cả chủ sở hữu tài sản cũng không được thực hiện quyền của mình một cách tuyệt đối. Chủ sở hữu có quyền sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí của mình nhưng không được trái với quy định của pháp luật, không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Đối với người được chủ sở hữu cho phép hoặc trao quyền sử dụng tài sản, phạm vi và cách thức sử dụng phụ thuộc vào căn cứ xác lập quyền sử dụng, nội dung thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật có liên quan.

Do đó, người sử dụng không được tự ý thay đổi mục đích sử dụng, làm hư hỏng, chuyển giao, cho người khác sử dụng hoặc thực hiện các hành vi vượt quá phạm vi quyền được giao, trừ trường hợp được chủ sở hữu đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.

Ví dụ, một học sinh được bạn cho mượn xe đạp để đi học thì phải sử dụng xe theo thỏa thuận đã được hai bên xác lập và có trách nhiệm giữ gìn tài sản. Người mượn không được tự ý đem xe cho người khác mượn, tháo hoặc thay đổi bộ phận của xe nếu chưa được chủ sở hữu đồng ý. Nếu sử dụng sai thỏa thuận và gây thiệt hại, người sử dụng có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.

Như vậy, người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản không được tùy ý sử dụng tài sản theo ý muốn của mình. Việc sử dụng phải phù hợp với phạm vi quyền được trao, thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật, đồng thời không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và các cá nhân, tổ chức khác.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/chu-so-huu-trao-quyen-su-dung-tai-san.jpg

GDKTPL 12 Bài 9: Có phải người được chủ sở hữu trao quyền sử dụng tài sản có thể tuỳ ý sử dụng tài sản theo ý muốn của mình không? (Hình từ Internet)

Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được quy định như thế nào?

Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như sau:

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Như vậy, pháp luật bảo vệ quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản thông qua cả biện pháp tự bảo vệ và việc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền. Qua đó, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản được bảo đảm và góp phần ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm quyền.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý