GDKTPL 10 CTST Bài 16 trang 114: Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra đúng không?

Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra đúng không? Theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân có cơ cấu tổ chức như thế nào?

Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra đúng không?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2025 có quy định:

Ủy ban nhân dân
1. Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
...

Theo quy định trên, có thể thấy Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra.

Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Như vây, ý kiến "Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra" là ý kiến không đúng, vì dựa vào quy định trên có thể thấy Ủy ban nhân dân không do cử tri ở địa phương bầu ra, mà do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra đúng không?

Ủy ban nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra đúng không? (Hình từ Internet)

Ủy ban nhân dân có cơ cấu tổ chức như thế nào?

Căn cứ theo Điều 39 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2025 có quy định về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân, cụ thể như sau:

(1) Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên.

(2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp mình thực hiện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp mình và cơ quan nhà nước cấp trên.

(3) Căn cứ các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính cấp xã ở nông thôn, đô thị, hải đảo, Ủy ban nhân dân cấp xã được tổ chức các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác hoặc bố trí các công chức chuyên môn để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ.

(4) Chính phủ quy định khung số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; số lượng và cơ cấu Ủy viên Ủy ban nhân dân; khung số lượng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã hoặc việc bố trí các công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực; trình tự, thủ tục đề nghị phê chuẩn kết quả Hội đồng nhân dân bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; trình tự, thủ tục điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

7 | trinhkimquocdung
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý