SBT KTPL 11 Bài 17 CTST trang 122: Một người chỉ bị bắt khi có quyết định của ai? Việc bắt người được thực hiện trong trường hợp nào?
Nội dung chính
Một người chỉ bị bắt khi có quyết định của ai? Việc bắt người được thực hiện trong trường hợp nào?
Căn cứ Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định:
Điều 20.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.
...
Theo quy định trên, một người chỉ bị bắt khi có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Đây là quy định nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi người và tránh việc bắt người trái pháp luật.
Tuy nhiên, pháp luật cũng có ngoại lệ đối với trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, người phạm tội có thể bị bắt mà không cần chờ quyết định của Tòa án nhân dân hoặc quyết định, phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân.
Đồng thời, khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định các trường hợp bắt người bao gồm:
- Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
- Bắt người phạm tội quả tang;
- Bắt người đang bị truy nã;
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;
- Bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Một người chỉ bị bắt khi có quyết định của ai? Việc bắt người được thực hiện trong trường hợp nào? (Hình từ Internet)
Ai có quyền bắt người phạm tội quả tang và người đang bị truy nã?
Căn cứ khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:
Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
...
Đồng thời, căn cứ khoản 1 Điều 112 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:
Điều 112. Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
...
Theo các quy định trên, có thể thấy bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang và người đang bị truy nã. Sau khi bắt, người bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất để xử lý theo quy định của pháp luật. Các cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm lập biên bản và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Bắt người trái pháp luật có bị xử lý hình sự không?
Căn cứ Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 30 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định:
Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, việc bắt người trái pháp luật có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 30 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người thực hiện hành vi này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù đến 12 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo quy định của pháp luật.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
