Vì sao nói Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định? Hiến pháp được bổ sung, thay đổi khi nào?

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Vậy, nói Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định là do đâu? Khi nào Hiến pháp được bổ sung, thay đổi?

Vì sao nói Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định?

Hiến pháp Việt Nam được xem là có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định vì Hiến pháp quy định những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia, tức là những vấn đề “nền móng” cho toàn bộ đời sống chính trị - pháp lý - xã hội.

Cụ thể, Hiến pháp xác định những vấn đề lớn như hình thức chính thể, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, chế độ chính trị, nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây đều là những nội dung có phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan trực tiếp đến định hướng phát triển của đất nước và cách thức nhà nước quản lý xã hội.

Chính vì mang tính nền tảng như vậy nên Hiến pháp không quy định các vấn đề nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc dễ thay đổi theo từng giai đoạn, mà chủ yếu đưa ra các nguyên tắc lớn, định hướng lâu dài. Những nguyên tắc này cần sự ổn định để mọi hoạt động của nhà nước và xã hội có khung chung để vận hành, tránh tình trạng thay đổi liên tục gây xáo trộn.

Ngoài ra, Hiến pháp còn là cơ sở để xây dựng, ban hành và áp dụng các văn bản pháp luật khác. Khi Hiến pháp ổn định, hệ thống pháp luật phía dưới mới có điều kiện ổn định theo, giúp việc quản lý nhà nước nhất quán, bảo đảm rõ ràng quyền và nghĩa vụ của công dân. Vì vậy, Hiến pháp ít được sửa đổi, và việc sửa đổi (nếu có) luôn phải cân nhắc rất thận trọng.

Tóm lại, Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định vì chứa đựng những quy định nền tảng, định hướng cho toàn bộ đời sống chính trị - pháp lý - xã hội và là cơ sở của hệ thống pháp luật Việt Nam. Do ảnh hưởng rộng và lâu dài, Hiến pháp không thể sửa đổi tùy tiện mà phải được xem xét điều chỉnh một cách thận trọng để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển, vừa bảo đảm sự ổn định của đất nước.

hien-phap-viet-nam

Vì sao nói Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực pháp lý lâu dài và tương đối ổn định? Hiến pháp được bổ sung, thay đổi khi nào? (Hình từ Internet)

Hiến pháp được bổ sung, thay đổi khi nào?

Hiến pháp chỉ được sửa đổi, bổ sung vào những thời điểm đặc biệt, thường là khi đất nước có những biến chuyển lớn mang tính lịch sử và phát triển, khiến nhiều vấn đề nền tảng cần được điều chỉnh cho phù hợp. Những thay đổi đó có thể liên quan đến yêu cầu xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước, định hướng phát triển quốc gia, hoặc các vấn đề quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Nói cách khác, Hiến pháp không sửa “vì một vài vấn đề nhỏ”, mà chỉ xem xét sửa đổi khi thực tiễn phát triển đặt ra nhu cầu phải điều chỉnh ở tầm nguyên tắc và nền tảng. Bởi Hiến pháp có vai trò rất quan trọng đối với toàn bộ hệ thống pháp luật và đời sống xã hội, nên sửa đổi Hiến pháp luôn là việc hệ trọng, được thực hiện nghiêm túc, thận trọng, nhằm bảo đảm vừa đáp ứng yêu cầu mới, vừa giữ được sự ổn định chung của đất nước.

Ví dụ: Hiến pháp 2013 được sửa đổi bởi Nghị quyết 203/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 16/06/2025, phù hợp với chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính của Đảng, Nhà nước.

Điều kiện, cơ quan có thẩm quyền bổ sung, thay đổi Hiến pháp?

Căn cứ khoản 1 Điều 120 Hiến pháp 2013 quy định:

“1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
…”

Theo quy định hiện hành, quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp thuộc về Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội.

Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội quyết định và chỉ được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | nguyenphucanh
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý