Tự ý giảm tiền lương của người lao động, doanh nghiệp bị phạt bao nhiêu tiền? Bài 10 GDCD 8 KNTT
Nội dung chính
Tự ý giảm tiền lương của người lao động, doanh nghiệp bị phạt bao nhiêu tiền?
Căn cứ Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định, doanh nghiệp phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì doanh nghiệp có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
Trường hợp doanh nghiệp tự ý giảm tiền lương của người lao động mà không có sự thỏa thuận hoặc không thuộc trường hợp pháp luật cho phép thì có thể bị xem là hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Khi đó, doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, với mức phạt tiền tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm, cụ thể:
- Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Lưu ý: Mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với tổ chức. (Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP)

Tự ý giảm tiền lương của người lao động, doanh nghiệp bị phạt bao nhiêu tiền? Bài 10 GDCD 8 KNTT (Hình từ Internet)
Lương của người lao động được trả theo hình thức và kỳ hạn như thế nào?
Theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 Bộ luật Lao động 2019, việc trả lương của người lao động phải được thực hiện theo hình thức và kỳ hạn do các bên thỏa thuận, nhưng vẫn phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật.
(1) Hình thức trả lương
- Doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
+ Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
+ Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
(2) Kỳ hạn trả lương
- Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì doanh nghiệp phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
