Trường hợp chiếm hữu nào được xem là chiếm hữu bất hợp pháp? SBT Kinh tế Pháp luật 12 Bài 9 trang 84
Nội dung chính
Trường hợp chiếm hữu nào được xem là chiếm hữu bất hợp pháp? SBT Kinh tế Pháp luật 12 Bài 9 trang 84
Trước hết, theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015, chiếm hữu được hiểu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
Đồng thời, căn cứ Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật chỉ công nhận chiếm hữu có căn cứ pháp luật trong trường hợp sau đây:
- Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
- Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
- Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
- Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Trên cơ sở đó, khoản 2 Điều 165 cũng xác định rõ: Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với các trường hợp nêu trên là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Như vậy, có thể hiểu, chiếm hữu bất hợp pháp là trường hợp chiếm hữu tài sản nhưng không thuộc các trường hợp được pháp luật công nhận là chiếm hữu hợp pháp (chiếm hữu có căn cứ pháp luật).
Ví dụ: A tự ý lấy điện thoại của B để sử dụng khi chưa được sự đồng ý của B. Trong trường hợp này, A không phải là chủ sở hữu, không được ủy quyền và cũng không phát sinh từ giao dịch hợp pháp, nên việc A đang giữ chiếc điện thoại được xem là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Trường hợp chiếm hữu nào được xem là chiếm hữu bất hợp pháp? SBT Kinh tế Pháp luật 12 Bài 9 trang 84 (Hình từ Internet)
Khi bị chiếm hữu bất hợp pháp, chủ sở hữu có quyền yêu cầu bảo vệ tài sản như thế nào?
Trong thực tế, hành vi chiếm hữu bất hợp pháp không chỉ làm phát sinh tranh chấp mà còn trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản. Do đó, pháp luật dân sự đã thiết lập cơ chế bảo vệ nhằm giúp chủ sở hữu tài sản có quyền kịp thời yêu cầu xử lý các hành vi xâm phạm này.
Cụ thể, căn cứ Điều 185 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, trong trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm (bao gồm cả trường hợp bị chiếm hữu bất hợp pháp) thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Cụ thể, chủ sở hữu có quyền có thể:
+ Yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm;
+ Yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu;
+ Yêu cầu trả lại tài sản;
+ Yêu cầu bồi thường thiệt hại;
+ Hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại.
Như vậy, pháp luật không chỉ dừng lại ở việc xác định hành vi chiếm hữu bất hợp pháp mà còn thiết lập đầy đủ các cơ chế bảo vệ, giúp chủ sở hữu chủ động bảo vệ tài sản của mình. Điều này góp phần bảo đảm tính ổn định của các quan hệ tài sản và nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trong thực tiễn.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
