Trong các yếu tố cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam, yếu tố nào được xem là đơn vị cơ bản, nhỏ nhất?

Trong các yếu tố cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam, yếu tố được xem là đơn vị cơ bản, nhỏ nhất là yếu tố nào?

Trong các yếu tố cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam, yếu tố nào được xem là đơn vị cơ bản, nhỏ nhất?

Hệ thống pháp luật Việt Nam được cấu thành từ ba yếu tố: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật.

Trong đó:

+ Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi cả nước hoặc trong đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định tại Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. (Theo khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025)

+ Chế định pháp luật là tập hợp các quy phạm pháp luật có cùng tính chất điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong một hoặc nhiều ngành luật.

+ Ngành luật là tập hợp các quy phạm pháp luật có đặc tính chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội (ví dụ: dân sự, hình sự, hành chính...).

Như vậy, dù ở cấp độ chế định hay ngành luật thì nền tảng cấu thành vẫn là quy phạm pháp luật. Vì vậy, có thể khẳng định, trong các yếu tố cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam, yếu tố được xem là đơn vị cơ bản, nhỏ nhất là quy phạm pháp luật.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện dưới hình thức nào?

Về hình thức, hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định.

Các văn bản này là hình thức pháp lý chính thức để ghi nhận và thể hiện các quy phạm pháp luật trong thực tế. Nhờ được ban hành bằng văn bản cụ thể, pháp luật trở nên rõ ràng, minh bạch và có căn cứ để áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước.

yeu-to-cau-thanh-he-thong-phap-luat-viet-nam

Trong các yếu tố cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam, yếu tố nào được xem là đơn vị cơ bản, nhỏ nhất? (Hình từ Internet)

Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc nào?

Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 như sau:

- Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

- Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.

- Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.

- Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

- Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.

- Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

6 | huynhlebinhnhi
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý