Tại sao bầu cử vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mỗi công dân? Những trường hợp nào công dân không được bầu cử?

Tại sao bầu cử vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mỗi công dân? Những trường hợp nào công dân không có quyền bầu cử?

Tại sao bầu cử vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mỗi công dân?

Căn cứ Điều 27 Hiến pháp 2013 quy định:

Điều 27.
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Đồng thời, Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 cũng có quy định như sau:

Điều 2. Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử
Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.

Như vậy, theo quy định hiện hành, bầu cử trước hết là một quyền của công dân. Theo đó, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày bầu cử có quyền tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Quyền này thể hiện trực tiếp quyền làm chủ của công dân, thông qua lá phiếu công dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước.

Quyền bầu cử của công dân thể hiện rõ việc mỗi cá nhân được tự do bày tỏ ý chí chính trị, quyết định ai là người đủ uy tín, năng lực để đại diện cho tiếng nói và lợi ích của mình. Nói cách khác, bầu cử là cơ chế để công dân không chỉ "được quản lý" mà còn tham gia vào quá trình hình thành bộ máy quản lý nhà nước và xã hội.

Bên cạnh là một quyền hiến định, bầu cử còn được xem là trách nhiệm chính trị của công dân đối với Nhà nước và xã hội, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Bầu cử là trách nhiệm vì kết quả bầu cử ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chung

Người được bầu sẽ tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, từ chính sách phát triển kinh tế - xã hội đến các vấn đề an sinh, giáo dục, y tế, trật tự an toàn xã hội,... Khi công dân tham gia bầu cử nghiêm túc, lựa chọn có cân nhắc thì bộ máy đại diện có cơ sở phản ánh đúng hơn nguyện vọng của nhân dân.

Ngược lại, sự thờ ơ hoặc thiếu trách nhiệm trong việc lựa chọn có thể dẫn tới việc chọn chưa đúng người, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và chất lượng chính sách.

Tham gia bầu cử là một hình thức giám sát và trao quyền hợp pháp

Công dân không chỉ trao quyền cho người đại diện mà còn gửi gắm kỳ vọng và yêu cầu trách nhiệm. Lá phiếu vì vậy có ý nghĩa như một sự ủy quyền chính đáng: Người trúng cử phải chịu trách nhiệm trước cử tri và trước pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Ở góc độ này, bầu cử không chỉ là hành vi lựa chọn mà còn là cách công dân thiết lập mối quan hệ trách nhiệm giữa người đại diện và người được đại diện.

Bầu cử góp phần củng cố tính chính danh và sự ổn định của hệ thống chính trị

Điều này phù hợp với nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân theo Điều 2 Hiến pháp 2013. Tỷ lệ và chất lượng tham gia bầu cử phản ánh mức độ quan tâm, đồng thuận và tham gia của nhân dân đối với các thiết chế đại diện. Khi công dân thực hiện quyền bầu cử đầy đủ, đúng pháp luật, kết quả bầu cử sẽ có tính đại diện cao hơn, tăng niềm tin xã hội và tạo nền tảng cho việc quản lý, điều hành đất nước được ổn định và hiệu quả.

Tóm lại, bầu cử vừa là quyền vừa là trách nhiệm của công dân: Là quyền vì công dân được trực tiếp lựa chọn người đại diện và thể hiện ý chí của mình; là trách nhiệm vì mỗi lá phiếu có tác động đến lợi ích chung, đến chất lượng bộ máy đại diện và hiệu quả quản lý. Thực hiện quyền bầu cử nghiêm túc chính là cách công dân vừa bảo vệ quyền lợi của mình, vừa góp phần xây dựng Nhà nước và xã hội tốt hơn.

quyen-bau-cu

Tại sao bầu cử vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mỗi công dân? Những trường hợp nào công dân không được bầu cử? (Hình từ Internet)

Những trường hợp nào công dân không được bầu cử?

Căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định:

Điều 30. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri
1. Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.
...

Như vậy, theo quy định hiện hành, công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thực hiện quyền bầu cử:

- Đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án;

- Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án;

- Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;

- Người mất năng lực hành vi dân sự.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

10 | nguyenphucanh
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý