SBT KTPL 11 CTST Bài 16: Phạt tù là hình phạt nặng nhất có thể áp dụng đối với công dân trốn tránh nghĩa vụ quân sự đúng không?

SBT KTPL 11 CTST Bài 16: Có đúng không khi nói rằng hình phạt nặng nhất có thể áp dụng đối với công dân trốn tránh nghĩa vụ quân sự là phạt tù?

Phạt tù là hình phạt nặng nhất có thể áp dụng đối với công dân trốn tránh nghĩa vụ quân sự đúng không?

Căn cứ Điều 332 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự như sau:

Điều 332. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Phạm tội trong thời chiến;
c) Lôi kéo người khác phạm tội.

Theo quy định trên, có thể thấy đối với Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, pháp luật quy định hai loại hình phạt chính là cải tạo không giam giữ và phạt tù. Trong đó, mức nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm được áp dụng đối với người vi phạm thuộc trường hợp thông thường, đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi này, chưa được xóa án mà còn tiếp tục vi phạm.

Trường hợp hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn, như tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình để trốn nghĩa vụ quân sự, phạm tội trong thời chiến hoặc lôi kéo người khác phạm tội, thì người vi phạm có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, đối với công dân có hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự, phạt tù là hình phạt nặng nhất có thể áp dụng, với mức cao nhất là 05 năm tù theo quy định tại Điều 332 Bộ luật Hình sự 2015.

tron-nghia-vu-quan-su

Phạt tù là hình phạt nặng nhất có thể áp dụng đối với công dân trốn tránh nghĩa vụ quân sự đúng không? (Hình từ Internet)

Hệ quả của việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự đối với bản thân và xã hội là gì?

Việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự trước hết để lại hệ quả trực tiếp đối với chính người vi phạm. Đây là hành vi thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng và đất nước. Tùy tính chất, mức độ vi phạm, người trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Không chỉ ảnh hưởng về mặt pháp lý, hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự còn tác động xấu đến danh dự, uy tín và tương lai của người vi phạm. Khi một công dân tìm cách né tránh nghĩa vụ của mình, điều đó có thể khiến họ bị đánh giá là thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh và không nghiêm túc trong việc thực hiện bổn phận đối với đất nước. Về lâu dài, điều này còn ảnh hưởng đến nhận thức công dân, thái độ sống và cách nhìn của gia đình, nhà trường và xã hội đối với người đó.

Đối với xã hội, việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ công dân. Nếu có người cố tình né tránh mà không bị nhìn nhận đúng mức, điều đó dễ tạo ra tâm lý so bì, thiếu công bằng giữa những người nghiêm túc chấp hành và những người tìm cách né tránh, về lâu dài làm giảm ý thức trách nhiệm chung của công dân đối với xã hội.

Việc trốn tránh nghĩa vụ quân sự cũng ảnh hưởng đến nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghĩa vụ quân sự gắn với việc bảo đảm lực lượng phục vụ quốc phòng, an ninh và sẵn sàng bảo vệ đất nước khi cần thiết. Khi công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự không chấp hành đúng quy định, điều đó không chỉ là vi phạm cá nhân mà còn tác động đến trách nhiệm chung trong việc xây dựng lực lượng bảo vệ quốc gia.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

15 | nguyenphucanh
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý