SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 85: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là thế nào?
Nội dung chính
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là thế nào?
Theo Điều 178 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
Căn cứ Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
- Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
Ví dụ: Anh A mua một chiếc xe máy và sử dụng hằng ngày. Việc anh A giữ và sử dụng xe là chiếm hữu có căn cứ pháp luật.
- Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
Ví dụ: Bà B đi công tác dài ngày và nhờ người thân trông coi căn nhà. Người này đang chiếm hữu tài sản hợp pháp theo sự ủy quyền.
- Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
Ví dụ: C thuê xe ô tô của công ty cho thuê xe trong 3 ngày. Trong thời gian thuê, C là người chiếm hữu hợp pháp chiếc xe.
- Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan;
Ví dụ: D nhặt được một chiếc ví và mang nộp cho cơ quan công an. Trong thời gian chờ xử lý, việc D giữ tài sản là hợp pháp.
- Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan;
Ví dụ: E phát hiện một con bò đi lạc vào vườn mình và giữ lại, đồng thời thông báo tìm chủ. Đây là hành vi chiếm hữu đúng quy định.
- Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Ví dụ: Cơ quan thi hành án tạm giữ tài sản để đảm bảo việc thi hành bản án theo quyết định của Tòa án.
Ngược lại, nếu việc chiếm hữu tài sản không thuộc các trường hợp nêu trên thì sẽ bị xem là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, tức là không được pháp luật bảo vệ và có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Như vậy, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc một cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ, quản lý tài sản dựa trên những cơ sở hợp pháp do pháp luật quy định, như quyền sở hữu, sự ủy quyền, giao dịch dân sự hợp lệ hoặc các trường hợp đặc biệt khác được pháp luật công nhận. Khi việc chiếm hữu đáp ứng đúng các căn cứ này, người chiếm hữu sẽ được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản đó.

SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 85: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là thế nào? (Hình từ Internet)
Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu như thế nào?
Tại Điều 184 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu như sau:
- Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh.
- Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền.
- Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và luật khác có liên quan.
Tóm lại, pháp luật dân sự đặt ra cơ chế suy đoán có lợi cho người chiếm hữu, theo đó họ được mặc nhiên xem là ngay tình và có quyền đối với tài sản nếu không có chứng cứ chứng minh ngược lại. Quy định này không chỉ bảo vệ sự ổn định trong các quan hệ tài sản mà còn tạo điều kiện cho người chiếm hữu ngay tình, công khai, liên tục được hưởng các quyền lợi hợp pháp, bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và khả năng xác lập quyền theo thời hiệu.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
