SBT GDCD 8 KNTT Bài 10: Doanh nghiệp tự ý giảm lương, người lao động có được nghỉ ngang không?
Nội dung chính
SBT GDCD 8 KNTT Bài 10: Doanh nghiệp tự ý giảm lương, người lao động có được nghỉ ngang không?
Theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước trong một số trường hợp nhất định.
Trong đó, tại điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động có quyền nghỉ việc ngay khi: "Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;"
Như vậy, nếu doanh nghiệp tự ý giảm lương của người lao động so với thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà không có sự đồng ý của người lao động hoặc không thuộc trường hợp pháp luật cho phép, thì có thể được xem là không trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Khi đó, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước.
Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp được loại trừ theo khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, nếu vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn thì được phép chậm trả lương nhưng không quá 30 ngày.
Trong trường hợp trả lương chậm từ 15 ngày trở lên, người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Do đó, chỉ khi doanh nghiệp không trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn mà không thuộc trường hợp bất khả kháng theo quy định pháp luật, người lao động mới có quyền nghỉ ngang mà không cần báo trước.

SBT GDCD 8 KNTT Bài 10: Doanh nghiệp tự ý giảm lương, người lao động có được nghỉ ngang không? (Hình từ Internet)
Người lao động cần làm gì khi doanh nghiệp tự ý giảm lương?
Khi có căn cứ cho rằng việc doanh nghiệp tự ý giảm lương là trái pháp luật và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, người lao động có thể lựa chọn một trong các cách sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Thứ nhất, khiếu nại đến người sử dụng lao động.
Theo khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP, khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi của người sử dụng lao động là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, người lao động có quyền gửi khiếu nại đến người sử dụng lao động để yêu cầu giải quyết.
Bên cạnh việc khiếu nại, người lao động cũng có quyền khởi kiện trực tiếp tại Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 24/2018/NĐ-CP.
Thứ hai, khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện tại Tòa án.
Trường hợp người lao động không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết, người lao động có quyền lựa chọn:
(i) Tiếp tục khiếu nại lần hai đến Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP; hoặc
(ii) Khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định 24/2018/NĐ-CP.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
