Sách chuyên đề GDKTPL 11 KNTT Bài 4: Nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở của hợp đồng dân sự đúng không?
Nội dung chính
Nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở của hợp đồng dân sự đúng không?
Căn cứ theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015 thì nghĩa vụ dân sự được hiểu là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Căn cứ theo Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ:
Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Dựa vào quy định trên có thể thấy hợp đồng dân sự chỉ là một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự, chứ không phải căn cứ duy nhất. Ngoài hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự còn có thể phát sinh từ nhiều căn cứ khác.
Điều này cho thấy, ngay cả khi không có hợp đồng dân sự, một người vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật. Ví dụ, một người gây thiệt hại về tài sản cho người khác thì vẫn phải bồi thường, dù giữa hai bên không có hợp đồng.
Tóm lại, ý kiến "Nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở của hợp đồng dân sự" lá ý kiến không đúng, vì nghĩa vụ dân sự không chỉ phát sinh từ hợp đồng dân sự, mà còn từ nhiều căn cứ khác theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở của hợp đồng dân sự đúng không? (Hình từ Internet)
Cá nhân pháp nhân xác lập nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở nào?
Căn cứ Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự:
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Theo đó, pháp luật quy định, cá nhân pháp nhân xác lập nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
