Quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được làm thiệt hại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác là quyền của chủ thể nào?
Nội dung chính
Quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được làm thiệt hại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác là quyền của chủ thể nào?
Theo quy định của Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ tại Điều 190 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định như sau:
Điều 190. Quyền sử dụng của chủ sở hữu
Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được làm thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác là quyền sử dụng của chủ sở hữu.

Quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được làm thiệt hại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác là quyền của chủ thể nào? (Hình từ Internet)
Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu như thế nào?
Tại Điều 191 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu như sau:
Điều 191. Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo đó, người không phải là chủ sở hữu vẫn có thể được quyền sử dụng tài sản trong những trường hợp nhất định. Quyền này không phát sinh một cách độc lập, mà phải dựa trên cơ sở sự thỏa thuận với chủ sở hữu (ví dụ như hợp đồng thuê, mượn, hoặc cho ở nhờ) hoặc theo quy định cụ thể của pháp luật.
Điều này có nghĩa là, phạm vi và cách thức sử dụng tài sản của người không phải là chủ sở hữu sẽ bị giới hạn bởi nội dung đã được thỏa thuận hoặc quy định pháp luật liên quan. Họ không có toàn quyền như chủ sở hữu, mà phải sử dụng tài sản đúng mục đích, đúng phạm vi và không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cũng như các chủ thể khác.
Tóm lại, người không phải là chủ sở hữu được quyền sử dụng tài sản, nhưng quyền này chỉ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật, và luôn bị giới hạn trong khuôn khổ đã được xác lập.
Bên mượn tài sản người khác có nghĩa vụ gì?
Căn cứ Điều 496 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên mượn tài sản người khác có các nghĩa vụ sau đây:
- Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
- Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.
- Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.
- Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.
- Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.
Từ các quy định trên có thể thấy, bên mượn tài sản không chỉ có quyền sử dụng tài sản trong phạm vi cho phép mà còn phải thực hiện nhiều nghĩa vụ quan trọng nhằm bảo vệ tài sản của bên cho mượn. Những nghĩa vụ này bao gồm việc bảo quản tài sản cẩn thận, sử dụng đúng mục đích, không tự ý chuyển giao cho người khác, hoàn trả đúng thời hạn và bồi thường nếu gây thiệt hại.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
