Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quốc tịch của cha hay mẹ?
Nội dung chính
Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quốc tịch của cha hay mẹ?
Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, quốc tịch của trẻ em khi sinh ra được xác định căn cứ vào quốc tịch của cha mẹ và từng trường hợp cụ thể. Pháp luật quy định một số trường hợp phổ biến như sau:
Trường hợp 01: Cha và mẹ đều là công dân Việt Nam
Theo Điều 15 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì đương nhiên có quốc tịch Việt Nam.
Quy định này bảo đảm con của công dân Việt Nam được xác định quốc tịch Việt Nam ngay từ khi sinh ra, không phụ thuộc vào nơi sinh.
Trường hợp 02: Chỉ có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam
Theo Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2025, nếu cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai, thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam.
Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam.
Trường hợp một người là công dân Việt Nam, người còn lại là công dân nước ngoài, quốc tịch của trẻ em sẽ được xác định theo sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ khi thực hiện thủ tục về khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo hướng dẫn của Chính phủ. Nếu trẻ sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch, thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam.
Trường hợp 03: Cha mẹ là người không quốc tịch
Theo Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì trẻ có quốc tịch Việt Nam.
Trường hợp trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì trẻ có quốc tịch Việt Nam.
Ngoài ra, theo Điều 18 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.
Như vậy, quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có thể được xác định theo quốc tịch của cha, của mẹ hoặc theo sự thỏa thuận của cha mẹ, tùy thuộc vào quốc tịch của cha mẹ và từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định.

Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quốc tịch của cha hay mẹ? (Hình từ Internet)
Thủ tục đăng ký khai sinh để xác định quốc tịch của trẻ em khi sinh ra
Việc xác định quốc tịch của trẻ em trên thực tế thường được thực hiện thông qua thủ tục đăng ký khai sinh. Khi đăng ký khai sinh, cơ quan hộ tịch sẽ căn cứ vào quốc tịch của cha, mẹ và các giấy tờ liên quan để ghi nhận quốc tịch của trẻ theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Hộ tịch 2014, đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào Sổ hộ tịch các thông tin cơ bản của cá nhân khi sinh ra, trong đó có thông tin về quốc tịch.
Tùy thuộc vào quốc tịch của cha mẹ, thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo 02 trường hợp khác nhau theo Luật Hộ tịch 2014. Cụ thể:
Trường hợp 01: Trẻ em sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam
Đối với trường hợp trẻ em sinh ra mà cha mẹ đều là công dân Việt Nam, thẩm quyền và thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo Điều 13, Điều 16 Luật Hộ tịch 2014.
Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì phải nộp văn bản xác nhận của người làm chứng về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh theo quy định của pháp luật.
Trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch sẽ ghi nội dung khai sinh vào Sổ hộ tịch, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
Trường hợp 02: Trẻ em khi sinh ra có yếu tố nước ngoài
Đối với trường hợp trẻ em sinh ra có yếu tố nước ngoài, việc đăng ký khai sinh được thực hiện theo Điều 35, Điều 36 Luật Hộ tịch 2014 và Điều 4 Nghị định 120/2025/NĐ-CP.
Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ có thẩm quyền thực hiện đăng ký khai sinh trong các trường hợp sau:
- Trẻ em sinh ra tại Việt Nam mà:
+ Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; hoặc
+ Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc
+ Có cha và mẹ đều là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc
+ Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.
Khi đăng ký khai sinh trong trường hợp này, người đi đăng ký cũng phải nộp các giấy tờ theo quy định về đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, nếu cha hoặc mẹ hoặc cả cha mẹ là người nước ngoài, thì phải nộp thêm văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc lựa chọn quốc tịch cho con. Trường hợp cha mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con, văn bản thỏa thuận này phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch sẽ ghi nội dung khai sinh vào Sổ hộ tịch theo quy định. Trường hợp trẻ em có quốc tịch nước ngoài, cơ quan hộ tịch không ghi nội dung về Số định danh cá nhân trong Sổ hộ tịch.
Sau khi ghi nội dung khai sinh vào Sổ hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho trẻ.
Lưu ý: Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài nhưng chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam, có cha mẹ là công dân Việt Nam hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 123/2015/NĐ-CP.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
