Ở Việt Nam, vị thành niên là bao nhiêu tuổi? Năng lực hành vi dân sự của tuổi vị thành niên?
Nội dung chính
Ở Việt Nam, vị thành niên là bao nhiêu tuổi?
Căn cứ Điều 1 Luật Trẻ em 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên (khoản 1 Điều 20); còn người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi (khoản 1 Điều 21).
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam phân định độ tuổi dựa trên khái niệm người thành niên và người chưa thành niên, nhưng chưa xác định cụ thể độ tuổi vị thành niên là bao nhiêu tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi vị thành niên là từ 10 đến 19 tuổi.
Như vậy, hiện nay Việt Nam không có quy định cụ thể vị thành niên là bao nhiêu tuổi. Pháp luật Việt Nam chỉ quy định về người thành niên là người từ đủ 18 tuổi, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi và trẻ em là người dưới 16 tuổi.

Ở Việt Nam, vị thành niên là bao nhiêu tuổi? Năng lực hành vi dân sự của tuổi vị thành niên? (Hình từ Internet)
Năng lực hành vi dân sự của tuổi vị thành niên được quy định thế nào?
Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Để xác định được năng lực hành vi của tuổi vị thành niên (từ 10 đến 19 tuổi), cần xác định năng lực hành vi đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) và người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên).
* Về năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên, theo Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Người chưa đủ 6 tuổi: Giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
- Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Đại diện theo pháp luật của cá nhân được xác định theo Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
(i) Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
(ii) Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
(iii) Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại mục (i), (ii).
(iv) Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
* Về năng lực hành vi dân sự của người thành niên, theo Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và hạn chế năng lực hành vi dân sự quy định tại các Điều 22, 23 và 24 Bộ luật Dân sự 2015.
Những trường hợp nào thì được coi là mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự?
(1) Mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015)
- Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
- Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
(2) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015)
- Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
(3) Hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015)
- sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
- Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
