Kinh tế và Pháp luật 10 CTST Bài 19 trang 132: Lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là hình thức thực hiện pháp luật nào?

Lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là hình thức thực hiện pháp luật nào? Quyền này được quy định thế nào trong Bộ luật lao động 2019?

Lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là hình thức thực hiện pháp luật nào?

Lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là hình thức sử dụng pháp luật.

Theo đó, sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, thể hiện việc các chủ thể chủ động thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của mình. Việc lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là một quyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận.

Tại khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013 khẳng định: "Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc."

Theo Hiến pháp 2013, công dân có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Khi một người quyết định học nghề gì, làm công việc nào hay làm việc ở đâu, họ đang chủ động thực hiện quyền này.

Hành vi này không phải là tuân thủ pháp luật (vì không phải chỉ là không làm điều bị cấm), cũng không phải là áp dụng pháp luật (vì không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện), mà là tự mình sử dụng quyền do pháp luật quy định.

Như vậy, lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là sử dụng pháp luật, vì đó là việc công dân thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/lua-chon-nghe-nghiep.jpg

Kinh tế và Pháp luật 10 CTST Bài 19 trang 132: Lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc là hình thức thực hiện pháp luật nào? (Hình từ Internet)

Quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc được quy định như thế nào trong Bộ luật Lao động 2019?

Quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, công việc và nơi làm việc của người lao động được ghi nhận rõ trong Bộ luật Lao động 2019, thể hiện một trong những nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động.

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động 2019 quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động như sau:

Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động
1. Người lao động có các quyền sau đây:
a) Làm việc; tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

Theo đó, người lao động có quyền được làm việc và tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện cá nhân của mình. Điều này có nghĩa là mỗi người có thể chủ động quyết định công việc mình muốn làm, lựa chọn nơi làm việc (trong nước hoặc nước ngoài theo quy định pháp luật), cũng như ngành nghề mà mình theo đuổi mà không bị áp đặt hay ép buộc.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng bảo đảm rằng trong quá trình thực hiện quyền này, người lao động có cơ hội được học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp, từ đó mở rộng khả năng lựa chọn việc làm và phát triển bản thân. Đồng thời, họ được bảo vệ khỏi các hành vi tiêu cực như phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc, nhằm tạo ra môi trường lao động an toàn, công bằng và tôn trọng.

Ví dụ minh họa:

- Một sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể lựa chọn làm việc tại công ty trong nước hoặc ứng tuyển vào doanh nghiệp nước ngoài, tùy theo mong muốn và năng lực của mình.

- Một người lao động đang làm công việc văn phòng nhưng có đam mê kinh doanh có thể nghỉ việc để mở cửa hàng riêng mà không bị pháp luật cấm.

- Người lao động có thể chuyển từ công ty này sang công ty khác với điều kiện tuân thủ hợp đồng lao động đã ký, thể hiện quyền tự do lựa chọn nơi làm việc.

- Một công nhân có thể đăng ký học thêm nghề (ví dụ học kỹ thuật hoặc công nghệ) để chuyển sang công việc tốt hơn, phù hợp với định hướng phát triển cá nhân.

Như vậy, quy định này không chỉ khẳng định quyền tự do lựa chọn của người lao động mà còn đi kèm với các cơ chế bảo vệ cần thiết, góp phần bảo đảm sự bình đẳng và phát triển bền vững trong quan hệ lao động.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

1 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý