Giải SBT GDCD 8 bài 10 trang 41: Đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước có vi phạm pháp luật không?
Nội dung chính
Đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước có vi phạm pháp luật không?
Trong quan hệ lao động, nguyên tắc chung là khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải thực hiện nghĩa vụ báo trước cho người lao động theo thời hạn luật định (ví dụ: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn…).
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp đặc biệt người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần thông báo trước. Các trường hợp này được quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
Trường hợp 01: Người lao động không trở lại làm việc sau thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
Điều 31 Bộ luật Lao động 2019 quy định: "Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác."
Do đó, nếu quá thời hạn này mà người lao động không có mặt tại nơi làm việc, doanh nghiệp có quyền đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước.
Trường hợp 02: Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên
Để xác định thế nào là lý do chính đáng, theo khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 quy định, trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm:
+ Thiên tai, hỏa hoạn;
+ Bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền; và
+ Trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Do đó, nếu người lao động tự ý nghỉ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên và không chứng minh được lý do chính đáng, doanh nghiệp có quyền đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước.
Như vậy, về nguyên tắc, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ báo trước cho người lao động theo thời hạn luật định. Nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ báo trước thì có thể bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp vẫn có quyền đuổi việc nhân viên mà không cần thông báo trước, chẳng hạn như khi người lao động không quay lại làm việc sau thời hạn tạm hoãn hợp đồng hoặc tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.
Do đó, không phải mọi trường hợp đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước đều vi phạm pháp luật, mà cần xem xét có thuộc các trường hợp được pháp luật cho phép hay không.

Giải SBT GDCD 8 bài 10 trang 41: Đuổi việc nhân viên mà không thông báo trước có vi phạm pháp luật không? (Hình từ Internet)
Doanh nghiệp đuổi việc nhân viên trái pháp luật phải bồi thường gì?
Trong trường hợp doanh nghiệp đuổi việc nhân viên trái pháp luật, hành vi này có thể bị xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Khi đó, người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.
(i) Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
(ii) Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại mục (i) người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 để chấm dứt hợp đồng lao động.
(iii) Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại mục (i) và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
