Giải bài 9 trang 34 SBT GDCD 6: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam có được mang quốc tịch Việt Nam không?
Nội dung chính
Giải bài 9 trang 34 SBT GDCD 6: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam có được mang quốc tịch Việt Nam không?
Căn cứ theo Điều 18 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 về căn cứ xác định quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam
Điều 18. Quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam
1. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.
2. Trẻ em quy định tại khoản 1 Điều này chưa đủ 15 tuổi không còn quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
a) Tìm thấy cha mẹ mà cha mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài;
b) Chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ mà người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài.
Theo quy định nêu trên, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì được công nhận mang quốc tịch Việt Nam.
Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi cho trẻ em, giúp trẻ có quốc tịch để được đăng ký khai sinh, đi học và được pháp luật bảo vệ như những công dân khác.
Tuy nhiên, luật cũng quy định thêm: nếu trẻ chưa đủ 15 tuổi và sau này tìm được cha mẹ, thì trẻ sẽ không còn quốc tịch Việt Nam trong các trường hợp sau:
+ Tìm thấy cha mẹ mà cả cha và mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài.
+ Chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ và người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài.
Tóm lại, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam thì được mang quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp khi chưa đủ 15 tuổi tìm thấy cha mẹ mà cả cha và mẹ chỉ có quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ tìm thấy cha hoặc mẹ và người đó chỉ có quốc tịch nước ngoài.

Giải bài 9 trang 34 SBT GDCD 6: Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam có được mang quốc tịch Việt Nam không? (Hình từ Internet)
Quy định pháp luật về thủ tục nhận nuôi trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam
Việc nhận nuôi trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
1. Đăng ký nhu cầu nhận con nuôi
Trường hợp công dân Việt Nam có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi nhưng chưa tìm được trẻ em để nhận làm con nuôi thì có thể đăng ký nhu cầu nhận con nuôi với Sở Tư pháp nơi thường trú. Khi có trẻ em cần được giới thiệu làm con nuôi, Sở Tư pháp sẽ giới thiệu đến UBND cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận con nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
+ Hơn con nuôi ít nhất 20 tuổi.
+ Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế và chỗ ở để bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
+ Có tư cách đạo đức tốt.
Đồng thời, pháp luật cũng quy định một số trường hợp không được nhận con nuôi như người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc chưa được xóa án tích về một số tội liên quan đến xâm hại trẻ em...
2. Nộp hồ sơ đăng ký nhu cầu nhận con nuôi
Theo Điều 19 Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại UBND cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.
Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
3. Kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến của những người liên quan
Theo Điều 20 Luật Nuôi con nuôi 2010, UBND cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan này phải tiến hành lấy ý kiến của những người liên quan theo quy định tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể:
+ Việc nhận con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi. Tuy nhiên, cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.
Trường hợp cha mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ. Nếu nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó.
+ Người đồng ý cho làm con nuôi phải được UBND cấp xã tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi và quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan. Sự đồng ý này phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, đe dọa hoặc mua chuộc.
Việc lấy ý kiến phải được lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.
5. Đăng ký việc nuôi con nuôi
Theo Điều 22 Luật Nuôi con nuôi 2010, khi xét thấy người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, UBND cấp xã sẽ tổ chức đăng ký việc nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên liên quan.
Việc đăng ký và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được thực hiện trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người liên quan. Trường hợp từ chối đăng ký, UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
