Xe máy điện có phải lắp gương không? Học sinh đi xe máy điện không lắp gương bị phạt bao nhiêu tiền?

Xe máy điện bắt buộc phải lắp gương không? Học sinh đi xe máy điện không lắp gương bị phạt bao nhiêu? Kích thước của gương xe máy điện phải như thế nào?

Xe máy điện có phải lắp gương không? Học sinh đi xe máy điện không lắp gương bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo điểm g khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định nhưu sau:

Điều 34. Phân loại phương tiện giao thông đường bộ
1. Xe cơ giới bao gồm:
g) Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ, được thiết kế, sản xuất để hoạt động trên đường bộ, có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h; nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không lớn hơn 50 cm3; nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất của động cơ không lớn hơn 04 kW; xe gắn máy không bao gồm xe đạp máy;

Theo quy định của pháp luật hiện hành, xe máy điện được xếp vào nhóm xe gắn máy khi tham gia giao thông đường bộ. Vì được xem là xe gắn máy nên khi tham gia giao thông, xe máy điện cũng phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện kỹ thuật và trang bị an toàn, trong đó có gương chiếu hậu. Gương giúp người điều khiển quan sát phía sau, hạn chế điểm mù và đảm bảo an toàn khi chuyển hướng hoặc sang đường. Do đó, việc lắp gương chiếu hậu, đặc biệt là gương bên trái của người điều khiển là yêu cầu bắt buộc.

Đồng thời, tại điểm a khoản 1 Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 thì người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy. Do đó, học sinh đủ 16 tuổi trở lên mới được điều khiển xe máy điện.

Tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định 168/2024/NĐ-CP có quy định cụ thể như sau:

Điều 14. Xử phạt, trừ điểm giấy phép lái xe của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông
1. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng;

Dựa vào các quy định trên, học sinh đi xe máy điện mà không lắp gương chiếu hậu bên trái hoặc có nhưng không có tác dụng vẫn bị xem là vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông.

Tuy nhiên, vì học sinh là người chưa thành niên thì việc xử phạt sẽ căn cứ thêm vào quy định tại khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, được sửa đổi bởi khoản 68 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, cụ thể:

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Không áp dụng hình thức phạt tiền.

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Nếu bị phạt tiền thì mức phạt tối đa chỉ bằng 1/2 mức phạt của người thành niên,

Trường hợp người chưa thành niên không có khả năng nộp phạt, thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện nghĩa vụ nộp phạt thay.

Như vậy, trong trường hợp học sinh đi xe máy điện không lắp gương thì có thể bị phạt từ 200.000 đến 300.000 đồng theo quy định pháp luật.

Việc trang bị đầy đủ gương chiếu hậu không chỉ để tránh bị xử phạt mà còn giúp đảm bảo an toàn cho chính người điều khiển khi tham gia giao thông.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/xe-may-dien-co-phai-lap-guong-khong.jpg

Xe máy điện có phải lắp gương không? Học sinh đi xe máy điện không lắp gương bị phạt bao nhiêu tiền? (Hình từ Internet)

Kích thước của gương xe máy điện phải như thế nào?

Theo Tiểu mục 1.3 Mục 1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2024/BGTVT về Chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe mô tô, xe gắn máy ban hàng kèm theo Thông tư 48/2024/TT-BGTVT quy định, xe gắn máy hai bánh được phân loại nhóm L1, trong khi đó, xe máy điện cũng được xem là xe gắn máy nên xe máy điện cũng thuộc nhóm L1.

Căn cứ Tiểu mục 2.11 Mục 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2024/BGTVT về Chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe mô tô, xe gắn máy ban hàng kèm theo Thông tư 48/2024/TT-BGTVT quy định về gương xe máy điện như sau:

- Đối với xe máy điện phải lắp ít nhất một gương chiếu hậu ở bên trái của người lái.

- Gương chiếu hậu sử dụng lắp trên xe phải đáp ứng được các yêu cầu trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2024/BGTVT.

- Gương chiếu hậu phải được lắp đặt chắc chắn. Người lái có thể điều chỉnh được vùng quan sát tại vị trí lái.

- Bề mặt phản xạ của gương chiếu hậu phải có dạng hình lồi và có thể nhận rõ hình ảnh ở phía sau với khoảng cách tối thiểu 50 m về phía bên phải và bên trái hoặc tâm bề mặt phản xạ của gương phải cách mặt phẳng trung tuyến dọc của xe một khoảng tối thiểu là 280 mm.

- Trong trường hợp gương tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94 mm và không được lớn hơn 150 mm.

- Trong trường hợp gương không tròn kích thước của bề mặt phản xạ phải chứa được một hình tròn nội tiếp có đường kính 78 mm và phải nằm trong một hình chữ nhật có kích thước 120 mm x 200 mm.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

13 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý