Trong đơn tố cáo, công dân có nghĩa vụ nêu rõ họ tên và địa chỉ của mình hay không? Đơn tố cáo nặc danh có được xử lý không?
Nội dung chính
Trong đơn tố cáo, công dân có nghĩa vụ nêu rõ họ tên và địa chỉ của mình hay không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo 2018, tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Việc tố cáo có thể được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 22 Luật Tố cáo 2018).
Đồng thời, căn cứ khoản 1 Điều 23 Luật Tố cáo 2018 quy định:
Điều 23. Tiếp nhận tố cáo
1. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì trong đơn tố cáo còn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, cách thức liên hệ với từng người tố cáo; họ tên của người đại diện cho những người tố cáo.
Người tố cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn tố cáo.
Theo quy định nêu trên, trong trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ các thông tin sau:
- Ngày, tháng, năm tố cáo;
- Họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người tố cáo
Trường hợp có nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, cách thức liên hệ của từng người; đồng thời ghi họ tên của người đại diện cho những người tố cáo.
- Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo;
- Người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan;
Trong đơn tố cáo, người tố cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Tóm lại, công dân có nghĩa vụ nêu rõ họ tên và địa chỉ của mình trong đơn tố cáo (kèm cách thức liên hệ) và phải ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo, đơn còn phải ghi đầy đủ thông tin của từng người tố cáo và người đại diện theo quy định.

Trong đơn tố cáo, công dân có nghĩa vụ nêu rõ họ tên và địa chỉ của mình hay không? Đơn tố cáo nặc danh có được xử lý không? (Hình từ Internet)
Đơn tố cáo nặc danh có được xử lý không?
Căn cứ Điều 25 Luật Tố cáo 2018 quy định:
Điều 25. Tiếp nhận, xử lý thông tin có nội dung tố cáo
1. Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp thông tin có nội dung tố cáo quy định tại khoản 1 Điều này có nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.
Theo quy định trên, đơn tố cáo nặc danh (không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo; không xác định được người tố cáo; hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác) về nguyên tắc không được xử lý theo quy định của Luật Tố cáo. Nói cách khác, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo theo Luật Tố cáo đối với các thông tin thuộc trường hợp này.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn đặt ra cơ chế xử lý nhằm phục vụ công tác quản lý. Theo đó, nếu thông tin tố cáo nặc danh nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật, kèm tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi đó và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận có thể tiến hành thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
