Trẻ em gây thiệt hại thì ai là người có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại?
Nội dung chính
Trẻ em gây thiệt hại thì ai là người có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại?
Theo Điều 1 Luật Trẻ em 2016 quy định, trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Theo đó khi trẻ em gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường sẽ được xem xét dựa trên độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi như sau:
- Đối với trẻ em dưới dưới 15 tuổi: Nếu gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải đứng ra bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường, mà người gây thiệt hại có tài sản riêng thì phần còn thiếu sẽ được bù bằng tài sản của người đó.
Trừ trường hợp bồi thường thiệt hại do trẻ em mười dưới 15 tuổi gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý.
- Đối với trẻ em từ đủ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi: Người gây thiệt hại phải tự bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu tài sản không đủ, cha, mẹ sẽ phải bồi thường phần còn thiếu.
- Đối với trẻ em có người giám hộ: Người giám hộ có trách nhiệm sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Nếu tài sản đó không đủ hoặc không có, người giám hộ phải dùng tài sản của mình để bồi thường. Tuy nhiên, nếu chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì họ không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng.
Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trẻ em gây ra không chỉ phụ thuộc vào hành vi của trẻ mà còn gắn với trách nhiệm quản lý, giám sát của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại, đồng thời nâng cao trách nhiệm của gia đình và người chăm sóc trẻ.

Trẻ em gây thiệt hại thì ai là người có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại? (Hình từ Internet)
Trẻ em gây thiệt hại không phải bồi thường trong trường hợp nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
…
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
…
Theo đó, trẻ em (cũng như các chủ thể khác) không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:
- Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng: Đây là những tình huống xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, ví dụ như thiên tai, hỏa hoạn ngoài ý muốn… Trong trường hợp này, dù trẻ em có liên quan đến thiệt hại thì cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường.
- Thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại: Nếu người bị thiệt hại tự mình gây ra thiệt hại, thì trẻ em sẽ không phải bồi thường, vì lỗi không thuộc về phía người gây thiệt hại.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu các bên có thỏa thuận khác, hoặc pháp luật có quy định riêng thì việc bồi thường vẫn có thể được đặt ra.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
