Quyền bầu cử và ứng cử là gì? Quyền và nghĩa vụ của công dân về bầu cử và ứng cử như thế nào?
Nội dung chính
Quyền bầu cử và ứng cử là gì?
Quyền bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận, theo đó công dân được tham gia lựa chọn người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực nhà nước.
Quyền này thể hiện thông qua việc giới thiệu người ứng cử và trực tiếp bỏ phiếu để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, qua đó thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Quyền ứng cử là quyền cơ bản của công dân khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật thì có thể tự mình ra ứng cử hoặc được giới thiệu ứng cử làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Thông qua việc thực hiện quyền ứng cử, công dân có cơ hội tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước, góp phần xây dựng và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương.
Như vậy, quyền bầu cử và ứng cử là quyền chính trị cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật quy định. Thông qua việc thực hiện các quyền này, công dân thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình trong việc tham gia xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương.

Quyền bầu cử và ứng cử là gì? Quyền và nghĩa vụ của công dân về bầu cử và ứng cử như thế nào? (Hình từ Internet)
Quyền và nghĩa vụ của công dân về bầu cử và ứng cử như thế nào?
(1) Quyền của công dân về bầu cử
Theo Điều 27 Hiến pháp 2013, công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.
Cụ thể tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, quyền bầu cử của công dân còn được thể hiện ở các nội dung sau:
(i) Quyền khiếu nại về danh sách cử tri (Điều 33):
Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu phát hiện có sai sót thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
(ii) Quyền bỏ phiếu ở nơi khác (Điều 34):
Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của UBND cấp xã nơi mình, đã có tên trong danh sách cử tri để được bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở nơi mình có thể tham gia bỏ phiếu.
Khi cấp giấy chứng nhận, UBND cấp xã phải ghi ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình bên cạnh tên cử tri cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi khác”.
(iii) Nguyên tắc mỗi cử tri một phiếu (Điều 69):
Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
(2) Quyền của công dân về ứng cử
Theo Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, công dân đủ 21 tuổi trở lên, tính đến ngày bầu cử được công bố, có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
(3) Nghĩa vụ của công dân về bầu cử và ứng cử
Theo Điều 15 Hiến pháp 2013 quy định quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, do đó khi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử, công dân đồng thời phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực bầu cử, nghĩa vụ của công dân được quy định cụ thể tại Điều 69 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 như sau:
(i) Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp sau đây:
+ Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
+ Đối với cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
+ Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
(ii) Khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
