Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như thế nào?

Xuất bản: 25-02-2026
Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thế nào? Các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người chưa thành niên gồm gì?

Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như thế nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định như sau:

Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người chưa thành niên phạm tội là người phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Theo đó, người chưa thành niên phạm tội là người phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Tại Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định về nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:

- Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.

- Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

-. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 lấy mục đích giáo dục, phòng ngừa là chủ yếu. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt khi thật sự cần thiết, ưu tiên các hình phạt nhẹ, không áp dụng tù chung thân, tử hình hoặc hình phạt bổ sung; nếu phải phạt tù thì áp dụng mức nhẹ hơn so với người thành niên và trong thời hạn ngắn nhất phù hợp.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/ap-dung-hinh-phat-nguoi-chua-thanh-nien.jpg

Nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như thế nào? (Hình từ Internet)

Các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người chưa thành niên gồm gì?

Theo Điều 135 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 thì các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người chưa thành niên như sau:

- Các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

+ Giữ người trong trường hợp khẩn cấp;

+ Bắt người theo các trường hợp quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tạm giữ;

+ Tạm giam;

+ Giám sát điện tử;

+ Giám sát bởi người đại diện;

+ Bảo lĩnh;

+ Đặt tiền để bảo đảm;

+ Cấm đi khỏi nơi cư trú;

+ Tạm hoãn xuất cảnh.

- Các biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:

+ Áp giải, dẫn giải;

+ Kê biên tài sản;

+ Phong tỏa tài khoản.

Theo đó, dau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo ngay bằng văn bản cho gia đình của họ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp cần thiết có thể báo tin trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt là người chưa thành niên, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.

Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

1 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý