Người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm những ai? Xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội ra sao?

Theo quy định pháp luật thì người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm ai? Việc xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội ra sao?

Người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm những ai?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 3 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định như sau:

Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
2. Người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Theo đó, người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đây là những người đang bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp tố tụng hình sự khi có căn cứ cho rằng họ thực hiện hành vi phạm tội.

Việc xác định rõ các đối tượng này giúp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những quy định và biện pháp xử lý phù hợp với lứa tuổi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Đồng thời, các quy định này cũng thể hiện sự quan tâm của pháp luật trong việc bảo vệ và giáo dục người chưa thành niên, giúp họ nhận thức được sai lầm và có cơ hội sửa chữa, phát triển lành mạnh.

Như vậy, người chưa thành niên là người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/nguoi-chua-thanh-nien-la-nguoi-bi-buoc-toi.jpg

Người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm những ai? Xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội ra sao? (Hình từ Internet)

Xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội ra sao?

Việc xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội được quy định tại Điều 25 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 cụ thể như sau:

- Việc xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

Việc xác định tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu gồm: Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước, Hộ chiếu hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin trong các cơ sở dữ liệu nêu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu, thông tin này thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người đó học tập, lao động, sinh hoạt để xác minh, làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của họ.

- Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:

+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh;

+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh;

+ Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh;

+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

- Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Như vậy, việc xác định tuổi của người chưa thành niên bị buộc tội do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện, dựa trên các giấy tờ và dữ liệu hợp pháp như giấy khai sinh, căn cước công dân, hộ chiếu hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia.

Trường hợp thông tin không rõ ràng hoặc thiếu giấy tờ, cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác minh từ nhiều nguồn liên quan; nếu vẫn không xác định chính xác thì áp dụng các cách xác định theo quy định của pháp luật hoặc tiến hành giám định để xác định tuổi.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

9 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý