Khi nào có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử của công dân?
Nội dung chính
Khi nào có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử của công dân?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử như sau:
Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
…
2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
Như vậy, có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử của công dân khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử của người đó có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.

Khi nào có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử của công dân? (Hình từ Internet)
Ai có thẩm quyền ra lệnh khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử?
Căn cứ Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 24, khoản 57 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử như sau:
- Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) có quyền ra lệnh khám xét.
+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025). Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
+ Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.
Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 3, khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
- Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
- Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
- Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và đưa vào hồ sơ vụ án.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
